VÀI NÉT VỀ THỜI GIAN, KHÔNG GIAN VÀ CHỦ ĐỀ VĂN HOÁ CỦA "HÒ KHOAN LỆ THỦY"

Cập nhật 01/03/2013 09:27 - Lượt xem: 911

Lệ Thuỷ vốn là một huyện thuần nông, người dân nơi đây sống chất phác, đôn hậu, điều này đã được thể hiện rõ nét trong từng câu chữ, làn điệu của hò khoan Lệ Thủy, nết độc đáo riêng có ở vùng đất này. Đó cũng chính là điểm xuất phát để các làn điệu hò khoan ra đời và phát triển bền vững trong đời sống cộng đồng.

1. Vị trí địa lý nơi bắt đầu của điệu “hò khoan” Lệ Thuỷ:
Lệ Thuỷ vốn là một huyện thuần nông, người dân nơi đây sống chất phác, đôn hậu, điều này đã được thể hiện rõ nét trong từng câu chữ, làn điệu của hò khoan Lệ Thủy, nết độc đáo riêng có ở vùng đất này. Đó cũng chính là điểm xuất phát để các làn điệu hò khoan ra đời và phát triển bền vững trong đời sống cộng đồng.
Vậy thì “hò khoan” là gì?  và nó diễn ra trong thời gian và không gian nào? “Hò khoan” là một loại hình nghệ thuật mang đậm tính chất dân gian do con người sáng tạo ra thông qua lao động, sản xuất cũng như thông qua sinh hoạt cộng đồng.
1.1. Thời gian                                        
Văn nghệ dân gian "Hò khoan Lệ Thủy" đã đi vào máu thịt của mỗi người dân nơi đây bộc lộ rõ nét vốn văn hóa truyền thống đã có từ bao đời nay, nó không được giới hạn một thời gian nào cả. Giọng hò xứ sở cùng với con sông quê hương hòa quyện, sản sinh, nảy nở làn điệu hò khoan Lệ Thủy và khi cất cao giọng hò chúng ta bỗng nhớ tới cội nguồn năm tháng.
Điều đặc biệt của làn điệu “Hò khoan Lệ Thuỷ” được thể hiện ở yếu tố thời gian, khác với các loại hình nghệ thuật khác, ở đây nó không giới hạn thời gian nào cả. Dù cho ban đêm, ban ngày thì điệu “Hò khoan” cũng được người dân cất lên, đặc biệt là các ngày sinh hoạt cộng đồng, lễ làng, lễ nước, các ngày lễ hội của dân tộc như mừng Quốc khánh 02-9, ngày Tết nguyên đán, các buổi họp, sinh hoạt của các cơ quan, đoàn thể, những buổi lao động tập trung đông người, thậm chí cả những đêm trăng thanh, gió mát.
1.2. Không gian
Hò khoan Lệ Thủy” xuất hiện trên khắp mọi miền quê của huyện. Nó không chỉ có diễn ra trên sân khấu trong những ngày lễ, hội mà nó còn diễn ra ở đồng ruộng, ở đường làng, ngõ xóm, ở nhà văn hoá, ở những đêm trăng bên cối gạo, những buổi tiễn đưa quân nhân lên đường nhập ngũ bảo vệ quê hương, trong những lần quê hương đón những đứa con hoàn thành nghĩa vụ trở về, thậm chí trong mỗi gia đình có tổ chức liên hoan vui vẽ thì điệu “hò khoan” vẫn được cất lên như một món ăn tinh thần không thể thiếu. Và nó đã trở thành một nét văn hoá truyền thống vô cùng đắc sắc của tỉnh Quảng Bình nói chung và huyện Lệ Thuỷ nói riêng.
2. Sự ra đời và nét đặc trưng của làn điệu “hò khoan Lệ Thuỷ”
2.1: Sự ra đời của "Hò khoan Lệ Thủy":
Do hoàn cảnh địa lý, người dân Quảng Bình phải gánh chịu thiên tai hết sức khắc nghiệt và địch họa ghê gớm nên đã hình thành trong mỗi một người dân nơi mảnh đất này một tính cách riêng biệt. Lịch sử đã chứng minh nhiều lần kẻ địch muốn hủy hoại vùng đất hẹp này, song lần nào người dân Lệ Thủy cũng anh dũng đứng lên đấu tranh thắng lợi bằng nhiều cách rất độc đáo, linh hoạt, lạc quan. Cuộc sống ấy được in đậm vào từng người, thấm đẫm vào từng suy nghĩ, hành động và nét tính cách của từng người dân Lệ Thủy rồi thể hiện ra trong 9 làn điệu hò: Mái chè, mái nện, mái xắp, mái ba, mái ruỗi, mái nhì, hò khơi, hò nậu xăm, hò lỉa trâu. Trong 9 làn điệu hò khoan Lệ thủy thì hò mái xắp là phổ biến rộng rãi hơn cả. Trước đây, người Lệ Thủy gần như già, trẻ, gái trai đều biết đến và sử dụng thành thạo các làn điệu Hò khoan Lệ Thủy. Chưa có một hình thức văn hóa, văn nghệ nào mang tính phổ thông, đại chúng như hò khoan ở vùng đất này.
2.2: Nét văn hóa đặc trưng của làn điệu “hò khoan Lệ Thuỷ”
*Về nội dung:
Làn điệu “hò khoan Lệ Thủy” bình dị, dân dã là thế nhưng nó mang thật nhiều ý nghĩa thật sâu xa. Mỗi câu, mỗi chữ, mỗi làn điệu hò là một sự sáng tạo, thể hiện được sự thông minh, dí dỏm, là công cụ để ngợi ca những điều tốt đẹp, là vũ khí để phê phán những thói hư tật xấu làm cho cuộc sống cộng đồng ngày một tốt đẹp hơn. "Hò khoan Lệ Thủy" còn là những bài ca dân vận, những lời kêu gọi đánh giặc giữ làng, giữ nước. Mọi lĩnh vực trong đời sống cộng đồng đều là chủ đề cho sự ra đời của "Hò khoan Lệ Thủy".
Chẳng hạn như:
Về chính trị: Người dân đã sáng tạo ra những câu hò ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ, ca ngợi nhân dân, ca ngợi con người, như:
"...Nhờ có Đảng, ngọn đèn sáng tỏ
Bưng bát cơm ăn lòng tự nhủ lòng:
Vì tự do độc lập, vì thống nhất non sông
Xin hiến dâng cuộc đời cho Tổ quốc để tỏ dạ hiếu trung với nước nhà"
Hay: " Cụ Hồ Chí Minh tri binh như thánh, liệu địch như thần, sáng tỏ thiên cơ xoay vần tạo hóa!
Đất năm châu Người trải cả ngôn hành
Cầu chúc Ngài sống bách niên trường thọ như ông Bành ...mới ưng"
Những câu hò phê phán bọn áp bức, bóc lột, lên án những sự bất công trong cuộc sống, câu chữ, nội dung không cay độc, có khi chỉ là sự mát mẻ, nhẹ nhàng nhưng thật là sâu sắc.
Chẳng hạn như: Cách mạng Tháng Tám thành công chưa được bao lâu giặc Pháp lại quay lại xâm lược nước ta với âm mưu thâm độc: Dùng người Việt trị người Việt. Chúng đưa Bảo Đại ra làm chiêu bài độc lập, tổ chức quân ngụy gọi là lính bảo vệ...ở vùng bị tạm chiếm, bọn chúng ra chợ hống hách, quấy nhiễu nhân dân. Một mẹ già chướng tai gai mắt đã cất lên tiếng hò giữa chợ để vạch mặt bọn chúng:
"Lính đồn bảo vệ nơi mô
Ở  đây lính bảo vệ đá đổ cá khô của mẹ rồi"
Bọn chúng cho là mẹ nói xấu lính quốc gia, hùng hùng hỗ hỗ bắt mẹ vào đồn. Tên cai tỏ ra "có văn hóa", bảo mẹ: Hò hát khá thế thì hò lại đi! Hay ta tha, hò dỡ ta đánh! Phải ca ngợi cụ Hoàng Bảo Đại. Nghe không?
Mẹ bình thản hò liền:
Ở trung châu vọng cầu Bảo Đại
Ngó lên chiến khu, nhớ ngãi cụ Hồ
Hai bên chưa biết bên mô độc lập
Nước trong mà khuấy ra "Hồ" mới ngoan"
Bằng câu hò khoan người dân Lệ Thủy thủ thỉ tâm tình, can ngăn con em không đi lính, giết hại bà con, chết thay cho Pháp:
"Tình thế đảo điên, nhà cửa gạo tiền chẳng có,
Mẹ già con dại cơ khổ quá chừng...
Anh đi lính mộ chỉ sướng một mình
Trước anh phụ công ơn dưỡng dục..., sau anh đã đoạn tình với vợ con!"
- Về kinh tế: Làn điệu hò khoan đã cất lên mọi lúc, mọi nơi để ca ngợi người lao động, ca ngợi ngững tấm gương sản xuất giỏi, phê phán thói lười biếng siêng ăn, nhác làm, hò nhắc người dân gìn giữ những nghề lao động nâng cao thu nhập cho người dân ở mỗi vùng quê khác nhau, như:
" Lệ Thủy ta nước trong gạo trắng
Lúa hai mùa, khoai sắn tốt tươi
Nhiều nghề nổi tiếng khắp nơi
Trong ngoài bè bạn người người ngợi ca
Xuân Bồ giỏi chằm tơi xỏ lá
Giỏi rèn có Phan Xá, Hoàng Giang
Giỏi mộc chạm tỉa đục chàng
Quảng Cư, Mai Xá hai làng xưa nay
Bún dẻo dai ai tày Cổ Liễu
Chiếu Thá bền hơn chiếu Đại Phong
Xuân Hồi bủa cá hói sông
Phú Bình, Tân Mỹ cũng chung một nghề"
Về đạo đức: Nó góp phần giáo dục đạo đức con người biết uống nước nhớ nguồn, yêu gia đình, quê hương, làng xóm. Như:
"Quê hương sâu nặng
Nhớ thương với lòng
Với lòng sâu nặng ...nhớ thương
Ngái xa sông nước...trăng vàng tình quê
....
Có biết chăng quê hương mình đẹp lắm
Tây Trường Sơn xanh, đông đồi cát trắng , giữa xanh thắm Kiến Giang
Để ngọt ngào thêm giọng hò khoan
Lệ Thủy dựng xây ngày càng thêm diễm lệ
Anh đâu tiếc mái tóc xanh tuổi đời"
Hò khoan Lệ Thủy còn giáo dục con người, biết đứng lên khi vấp ngã, biết ăn ở thủy chung sau trước một lòng.
"Thanh niên thị thành với nông thôn mình vẫn khác
Ấy xin đừng lấy đó ngó đây
Đừng đứng núi này mà trông núi nọ, đừng đứng núi nọ trông lại núi này, tuổi đời ta đang độ...trí tuệ với đôi tay ngọc vàng."
Và đặc biệt thể hiện rõ hơn trong thời đại ngày nay “hò khoan” còn góp phần nâng cao văn hoá, tinh thần giáo dục thế hệ trẻ, khuyên răn họ bỏ thói say sưa rượu chè, cố gắng làm ăn "Xóa đói, giảm nghèo", làm cho quê hương ngày thêm giàu và đẹp:
Nói thật mất lòng xin anh đừng lui tới
Thấy dáng anh đi nghe lời anh nói chòm xóm chẳng ưa
Hay gì nhậu nhẹt say sưa
Cờ bài sát phạt
Ngủ muộn dậy trưa chán chường"
....
Là dân Quảng Bình cha ông mình trọng kiệm cần liêm chính
Anh là trai Lệ Thủy sao nỡ để cho người khinh miệt quê hương? Thương cha mẹ lam lũ một nắng hai sương
Mình đã làm gì để giảm nghèo xóa đói hay cứ tiêu hoang cho thêm nghèo"
Làn điệu "Hò khoan Lệ Thủy" có lúc còn là bài tuyên truyền Pháp luật, vận động nhân dân thực hiện quy định của Nhà nước như nộp đấy đủ sắc thuế, không kết hôn sớm, không sinh đẻ nhiều con,…
"Chuyện gần xa ta đà hợp lý
Chuyện thiết cốt này xin nghe kỹ lòng hơn
Ý tình anh muốn có mấy con
Khi đã nên chồng vợ
Anh nói nghe luôn thử nào?
...Đây cũng đã nỗi niềm thấp cao tâm sự
Đó cũng chân tình thiệt ý dựng xây
Chuyện con cái chớ vội nói thêm này
Lỡ một mai em đã sinh 2… toàn gái
Chưa có đứa con trai...cũng buồn
...
Cái với con anh nói mần răng biết trước
Con khỏe con ngoan thì con gì chẳng được anh ơi
Dạy nuôi khôn lớn trưởng thành
Cho 2 con tròn vẹn...vượt biết mấy khó khăn đó rồi?
Có thể nói rằng "Hò khoan Lệ Thủy" là vũ khí vạn năng, phong phú, đa dạng, gần gũi, gắn liền với cuộc sống người dân từ ngàn xưa đến nay.
* Về nghệ thuật:
Xét về gốc độ nghệ thuật, "Hò khoan Lệ Thủy" cũng hết sức độc đáo, khó có thể tìm thấy ở một loại hình nghệ thuật nào. Nó mang trong mình rất nhiều biện pháp tu từ: hoán dụ, ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, đồng âm, dị nghĩa, nói lái, nói leo, đại ngôn, ngoa ngôn, nói xóc...đã góp phần làm cho ngôn ngữ phong phú, tinh tế, cuốn hút người nghe, có khi nghe xong phải ngẫm nhiều mới thấy hay, thấy đẹp...Nó còn độc đáo ở nhịp điệu, nghe hò một câu cũng hay, nghe hò thâu đêm suốt sáng cũng không thấy chán. Đặc trưng của âm nhạc trong "Hò khoan Lệ Thủy" là không có nốt kết, nốt kết của hò con mở ra nốt đầu cho hò cái, nốt kết của hò cái lại mở đầu cho hò con, nó là sự chuyển tiếp một dây, như dãy số tự nhiên trên trục số, không bao giờ dứt.
Về nhịp điệu, câu chữ hò khoan rất linh hoạt. Từ hai nhịp có thể kéo dài ra năm, sáu nhịp. Từ câu giữa có thể bắt lại câu đầu, vì thế nên một câu lục bát có thể thành ra câu hò, câu song thất lục bát cũng có thể hò được, nói một lối dài cũng có thể hò được. Chính vì lẽ đó cho nên "Hò khoan Lệ Thủy" có khi là một chuyện hò dùng để hò từ đầu hôm đến sáng, có khi bất chợt chỉ sử dụng một câu hò khi ngẫu hứng của các chị các anh đi ngắm cảnh, chơi trăng.
Chẳng hạn như câu hò ngắn:
"Ai mà đốt đôộng, cháy tranh
Cho liềm bỏ xóc, cho anh bỏ nàng"
Cũng có câu hò dài:
"Tệ lắm anh ơi, bạc lắm anh ơi
Ngày xưa bán tử chi tình, vô vòng con rể...Thầy mẹ ở nhà thương rể để giữa bàn tay...
Gánh tương tư nặng một ngày
Nay chừ chàng nghe ai mà nguôi lòng lạt dạ
Nên duyên nợ càng ngày, càngxa!...?
Hoặc như:
"Thiếp xa chàng đêm trông ngày tưởng. Như cơn gió nồm phất phưởng mùng vi...vì ai con hạc nọ lại xa quy. Thôi  thôi em vuốt lá gan vàng em chịu chữ từ bi cho thấu trời"
"Xa thì xa cho mất - gần thì gần cho thành thất thành gia. Đừng làm lựng đựng như con bướm nọ với hoa - lâu lâu đáo tới dạ ta quá buồn"
Nghệ thuật trong "Hò khoan Lệ Thủy" đã giúp cho người hò sử dụng được mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh. Đây là tài sản vô cùng quý giá mà ông cha ta đã sáng tạo ra đậm đà bản sắc quê hương Lệ Thủy, Quảng Bình. Trách nhiệm của chúng ta hiện nay là phải biết nâng niu, gìn giữ, phát huy và không để cho làn điệu hò của quê hương mai một. Đó cũng chính là sự giữ gìn chính mình không bị hòa trộn vào trong dòng chảy của lai căng, mất gốc.
 
Dương Thị Thu
PHT Trường Tiểu học Hưng Thủy - Lệ Thủy





Hình ảnh Quảng cáo